Lịch sử Bài Chòi Bình Định
Bạn muốn tìm hiểu sâu sắc về nguồn gốc nghệ thuật Bài Chòi Bình Định – món ăn tinh thần độc đáo của miền Trung nắng gió? Cùng khám phá bài viết giới thiệu chi tiết về lịch sử Bài Chòi Bình Định qua trải nghiệm thực tế và lời kể của một người dân bản xứ Hoài Nhơn. Bài viết chuyên sâu hơn 2000 từ giải mã hành trình từ chiếc chòi canh thú rừng xua muôn thú, giai thoại cụ Đào Duy Từ hệ thống hóa trò chơi quy củ, chặng đường phát triển lên sân khấu trải chiếu, từ đất lên giàn đầy thăng trầm, cho đến cột mốc vinh danh trở thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại được UNESCO công nhận.

Chia sẻ:
Mục lục
- Nguồn gốc nghệ thuật Bài Chòi Bình Định – Tiếng lòng từ những chòi canh dốc núi
- Chặng đường phát triển của Bài Chòi Bình Định qua các thời kỳ lịch sử
- Cột mốc lịch sử: Nghệ thuật Bài Chòi Bình Định trở thành Di sản văn hóa thế giới UNESCO
- Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát triển Bài Chòi trong đời sống đương đại
- Sức sống bền bỉ của tiếng hô Bài Chòi trong tâm thức người dân xứ Nẫu
Cứ mỗi bận Tết đến Xuân về, khi những cơn mưa xuân lất phất bay và hoa mai vàng chớm nở khắp các ngõ xóm Hoài Nhơn, cái bụng của người dân xứ Nẫu tụi mình lại nôn nao, thấp thỏm lạ kỳ. Hông cần ai nhắc ai, cứ nghe tiếng trống chầu thúc vang dội dứt khoát từ phía sân đình là từ người già tóc bạc phơ cho đến mấy đứa con nít lật đật rủ nhau chạy ùa ra hội.
Người ta chen chúc nhau, tay cầm ba con bài chòi, tai chăm chú lắng nghe anh Hiệu, chị Hiệu ngân nga những câu thai ngọt ngào. Khung cảnh đó khiến dân gian xứ mình truyền tai nhau hai câu thơ kinh điển dứt vách: "Rủ nhau đi đánh Bài Chòi Để con nó khóc cho lòi rốn ra"
Chu choa, cái nghệ thuật gì mà có sức bùa mê thuốc lú dữ thần dị kì, khiến người ta mê mải quên cả lối về luân phiên? Để hiểu thấu ngọn ngành sức hút ấy, mời bạn cùng mình ngược dòng thời gian, lật mở lại cuốn sổ lịch sử để tìm hiểu về nguồn gốc nghệ thuật Bài Chòi Bình Định và chặng đường thăng trầm của nó nhen!
Nguồn gốc nghệ thuật Bài Chòi Bình Định – Tiếng lòng từ những chòi canh dốc núi
Từ chiếc chòi giữ rẫy thú rừng đến sân khấu nghệ thuật bình dân
Ngược dòng lịch sử Bài Chòi Bình Định, theo những tài liệu nghiên cứu dân tộc nhạc học từ đầu thế kỷ XX (như cuốn Larousse musicale xuất bản tại Paris năm 1928 của tác giả G.L Bouvier), loại hình này đã nhen nhóm hình thành và phát triển sau những năm Nam tiến (1470).
Bà con vạn chài và các nhà nghiên cứu miền Trung tụi mình thường dựa vào những câu chuyện truyền miệng thực tế để giải mã rằng: Khởi nguồn của Bài Chòi gắn liền với cuộc di dân vào phương Nam năm 1471, sau khi vua Lê Thánh Tông giải phóng thành Đồ Bàn. Thuở ấy, vùng đất Bình Định mới khai hoang còn thưa thớt dân cư, núi rừng rậm rạp đan xen chuỗi đồng bằng nhỏ hẹp, thú dữ như cọp, voi, heo rừng luân phiên kéo về quấy phá nương rẫy, bứt phá thành quả lao động của bà con.
Để bảo vệ mùa màng, người dân đã nảy ra sáng kiến dựng lên những chiếc chòi canh làm bằng tranh tre nhô cao trên vườn tược, ruộng đồng. Trên chòi có sàn ngồi và mái lợp để che nắng che mưa cho người canh giữ. Khi thấy thú dữ bấu víu tới, người ta dùng mõ, thanh la, trống... gõ liên hồi phát ra tiếng kêu lớn để xua đuổi muôn thú.
Mấy bận đêm trường thanh vắng, ngồi cô đơn trên chòi canh dốc núi, để giải khuây cho đỡ buồn ngủ và đỡ sợ hãi, người dân ở các chòi dùng ống tre bịt da ếch nối sợi chỉ hoặc sợi tơ giăng qua giữa các chòi để làm "điện thoại" nói chuyện. Họ bắt đầu hát đối đáp, hò, vè, đọc những câu ca dao tục ngữ từ chòi này sang chòi khác. Dần dần, mô hình sinh hoạt nương rẫy hoang vu này trở thành một nếp sinh hoạt giải trí tinh thần không thể thiếu của bà con lao động.
Giai thoại về cụ Đào Duy Từ và sự ra đời của hội chơi Bài Chòi dân gian
Đến giai đoạn thế kỷ XVII, cụ Đào Duy Từ (1572 - 1634) – một bậc khai quốc công thần của chúa Nguyễn, rời Thanh Hóa lưu lạc vào phương Nam và dừng chân lập nghiệp tại vùng đất Hoài Nhơn, Bình Định quê mình.
Nhìn thấy nếp sinh hoạt nói chuyện đối đáp giữa các chòi canh nương rẫy độc lạ của bà con, với óc sáng tạo thiên bẩm, cụ Đào Duy Từ đã hệ thống hóa, biến trò chơi dân dã ấy thành một trò chơi đánh bài trên chòi quy củ, lập thành hệ thống luật lệ rõ ràng. Cụ cho dựng 9 hoặc 11 chiếc chòi tre chia làm hai bên, ở giữa là chòi trung ương cho người cầm cái. Người chơi sẽ ngồi trên các chòi cao, còn người cầm cái (sau này gọi là anh Hiệu, chị Hiệu) đứng dưới đất hô tên những con bài. Từ sự cải tiến dứt khoát đó, hội chơi Bài Chòi dân gian chính thức ra đời và lan tỏa mạnh mẽ bách phát bách trúng khắp các làng quê xứ Nẫu.

Chặng đường phát triển của Bài Chòi Bình Định qua các thời kỳ lịch sử
Trải qua hàng trăm năm dâu bể, nghệ thuật Bài Chòi Bình Định hông dừng lại ở một trò chơi may rủi ngày Tết, mà đã vận động, biến chuyển liên hồi qua nhiều hình thái nghệ thuật đặc sắc.
Thời kỳ sơ khai: Hội chơi dân gian mộc mạc dịp Tết đến Xuân về
Thuở ban đầu, hội Bài Chòi chỉ diễn ra vào ba ngày Tết. Sân đình làng hoặc những khoảng đất rộng rãi, bằng phẳng gần xóm giã sẽ là nơi bà con dựng chòi. Trò chơi thực tế lúc này rất mộc mạc: chòi nào có đủ 3 con bài trùng khớp với lời hô của người cầm cái gọi là "tới" (thắng) một ván mắm, ván bánh.
Để cuộc chơi thêm phần hồi hộp, các anh Hiệu dạo đầu bắt đầu vay mượn những câu thơ lục bát trong ca dao, tục ngữ có từ trùng tên với con bài (gọi là câu thai) để hô lên. Thay vì gọi thẳng tên con bài như "Tử cẳng", "Chín cu", "Sáu hột", anh Hiệu sẽ ngân nga một câu thơ đầy ẩn ý, khiến người chơi ngồi trên chòi hồi hộp trông chờ, suy đoán xem có trúng con bài của mình hông. Đây là bước tiến vô cùng quan trọng, đánh dấu điệu Bài Chòi chính thức ra đời từ hội chơi Bài Chòi.
Thời kỳ thuộc Pháp và kháng chiến: Sức biến hóa thành sân khấu Kịch hát Bài Chòi chuyên nghiệp
Nhu cầu thưởng thức của người dân ngày càng cao, đòi hỏi nghệ thuật Bài Chòi phải vượt ra khỏi phạm vi hội chòi chật hẹp. Đội ngũ anh Hiệu nảy sinh ngày càng đông, đặc biệt là các anh "Hiệu xã" – những nghệ nhân có tài ứng biến điêu luyện. Họ bắt đầu sáng tác những câu bài dài, dùng các đoạn thơ đối đáp, trích đoạn kể chuyện dân gian Việt Nam hay truyện Tàu để biểu diễn.
Sự xuất hiện của hiệu xã đã đưa Bài Chòi bước vào giai đoạn "Sân khấu trải chiếu". Một tốp đôi ba anh chị Hiệu rủ nhau lập thành "gánh" nhỏ, xách cái chiếu tre đi về khắp các miền thôn quê phục vụ bà con. Lúc này, từ một làn điệu sơ khai dạo trước, Bài Chòi đã thâu nhận thêm nhiều làn điệu dân ca địa phương để hình thành nên bộ tứ làn điệu kinh điển: Xuân nữ, Xàng xê, Cổ bản và Hò Quảng.
Đến những năm 30 của thế kỷ XX, trước sự lấn lướt của các gánh hát Cải lương, hát Bội trên các trường hát lớn, các nghệ nhân Bài Chòi Bình Định (đứng đầu là cụ Phạm Đình Lang và cụ Ba Hượt) đã mạnh dạn thực hiện một cuộc cách mạng dứt khoát: Đưa Bài Chòi "từ đất lên giàn" (tức nâng cao sân khấu Bài Chòi lên khỏi mặt đất, có phông màn, cảnh trí đàng hoàng). Bước đi khoa học và nghiêm túc này chính là tiền đề vững chãi biến Bài Chòi từ hình thức ca kịch dân gian thành bộ môn Kịch hát Bài Chòi sân khấu chuyên nghiệp, phục vụ đắc lực cho công tác tuyên truyền, cổ động trong hai cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc.
Thời kỳ hiện đại: Khủng hoảng và sự hồi sinh mạnh mẽ
Sau ngày đất nước thống nhất, trước sự bùng nổ của các loại hình giải trí hiện đại như tivi, ca nhạc trẻ, băng đĩa lậu... nghệ thuật Bài Chòi truyền thống rơi vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng. Các gánh hát thưa thớt dần, thế hệ trẻ hông còn mặn mà với tiếng đàn nhị, tiếng sanh sứa mộc mạc của quê hương. Nhiều nghệ nhân gạo cội phải bỏ nghề đi làm kinh tế luân phiên khiến nghệ thuật Bài Chòi có nguy cơ mai một chán đời.
Tuy nhiên, với sớ thịt mặn mòi của người dân đất võ, tình yêu Bài Chòi chưa bao giờ tắt hẳn sạch bách trong lòng bà con. Bằng sự chung tay của chính quyền và tâm huyết cứu nghề của các nghệ nhân, các câu lạc bộ Bài Chòi dân gian tại Bình Định bắt đầu được khôi phục, đưa tiếng hô tiếng hát trở lại với các hội chợ, đêm rằm phố cổ và các tiết học ngoại khóa trường học.

Cột mốc lịch sử: Nghệ thuật Bài Chòi Bình Định trở thành Di sản văn hóa thế giới UNESCO
Sau bao nhiêu năm chắt chiu, gìn giữ và sáng tạo nghệ thuật nghiêm túc của bao thế hệ nghệ nhân, một cột mốc vàng son chói lọi đã đến với người dân xứ Nẫu tụi mình.
Sự kiện lịch sử: Vào ngày 07 tháng 12 năm 2017, tại phiên họp Ủy ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 12 của UNESCO diễn ra tại Hàn Quốc, Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ Việt Nam (trong đó Bình Định là cái nôi cốt lõi) đã chính thức được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Cái tin vui dứt vách đó truyền về làm cả vùng đất võ Bình Định ăn mừng như mở hội. Nó là sự công nhận mang tầm quốc tế cho những giá trị văn hóa, lịch sử thâm thúy mà ông cha tụi mình đã gửi gắm qua từng chiếc chòi tre, từng quân bài giấy và từng câu hát thai thấm đượm tính nhân văn, giáo dục điều hay lẽ phải, châm biếm thói hư tật xấu ở đời.

Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát triển Bài Chòi trong đời sống đương đại
Trở thành Di sản thế giới là một niềm tự hào vô bờ bến, nhưng làm sao để gìn giữ và phát triển sức sống của Bài Chòi trong dòng chảy xô bồ của thế kỷ XXI lại là một bài toán thực tế cần lời giải dứt khoát:
- Thực trạng: Hiện nay, số lượng nghệ nhân lớn tuổi có khả năng thuộc lòng hàng trăm câu thai, biết rành rẽ kỹ thuật luyến láy, nhả chữ chuẩn xác ngày càng hiếm hoi do quy luật tuổi tác. Thế hệ trẻ ngày nay tiếp cận nhiều với công nghệ nên việc thấu cảm cái hay, cái đẹp của ca từ Bài Chòi cần có thời gian và phương pháp truyền dạy phù hợp.
- Giải pháp thực tế đang triển khai: * Tổ chức luân phiên các liên hoan, hội thi Bài Chòi dân gian từ cấp xã, huyện (như Hoài Nhơn quê mình làm rất rầm rộ) cho đến cấp tỉnh để tạo sân chơi cho các gánh hát giao lưu.
- Đưa Bài Chòi vào học đường, mở các lớp truyền dạy kỹ thuật hô, đánh đàn, gõ sanh sứa cho các em học sinh năng khiếu.
- Đóng gói, lồng ghép hội chơi Bài Chòi vào các chương trình tour du lịch trải nghiệm thực tế. Du khách khi về Quy Nhơn hay các làng cổ Hoài Nhơn dứt khoát phải được leo lên chòi tre, tay cầm con bài và thưởng thức chén nước trà băm, nghe anh Hiệu hô bài thì mới trọn vẹn chuyến đi nhen!
Sức sống bền bỉ của tiếng hô Bài Chòi trong tâm thức người dân xứ Nẫu
Trải qua bao thăng trầm lịch sử, tiếng hô Bài Chòi vẫn có một sức sống bền bỉ, mãnh liệt đến lạ kỳ trong sớ thịt của người dân Bình Định. Nó hông phải là thứ nghệ thuật hàn lâm, bác học bấu víu trong các nhà hát sang trọng, mà nó sống mộc mạc, chân phương ngay trong hơi thở lao động hằng ngày của bà con.
Chỉ cần một chiếc chiếu trải giữa sân đình, một cây đàn nhị, một đôi sanh sứa là một không gian Bài Chòi đã bùng nổ sùng sục. Những câu thai vang lên vừa ca ngợi tình yêu đôi lứa, tình mẫu tử thiêng liêng, vừa chứa đựng triết lý sống thủy chung, nghĩa tình của người miền Trung nắng gió. Với người con xa quê như mình, mỗi bận nghe lại một điệu Xuân nữ hay Xàng xê là cái bụng lại dâng lên niềm xúc động nghẹn ngào, nhớ thắt ruột quê hương xứ sở.
Lịch sử Bài Chòi Bình Định dẫu đã kinh qua bao chặng đường thăng trầm, từ những chiếc chòi tranh tre canh thú rừng heo hút cho đến ánh đèn lung linh của sân khấu Di sản thế giới, nhưng cái cốt cách mộc mạc, chân phương và đậm đà tình nghĩa của nó thì vẫn vẹn nguyên như thuở ban đầu. Tiếng hô Bài Chòi chính là tiếng lòng, là điệu hồn và là chứng nhân lịch sử kiên cường của người dân vùng đất võ miền Trung nắng gió.
Hy vọng qua bài viết giới thiệu chia sẻ trải nghiệm thực tế đầy chân tình này, bạn sẽ thấu hiểu sâu sắc hơn về hành trình gìn giữ di sản của cha ông tụi mình nhen. Nếu có bận nào ghé thăm Bình Định, bạn nhớ dứt khoát phải dành một buổi tối để bước chân vào hội chòi, ngồi lên chiếc chòi tre lắng nghe câu thai ngọt ngào nha. Chắc chắn tiếng trống chầu thúc liên hồi và giọng hô trầm bổng xứ Nẫu sẽ hông làm cái bụng của bạn thất vọng đâu hà!
Câu hỏi thường gặp
Xem thêm bài viết:
Kinh Nghiệm & Blog Tương Tự
Cập nhật những bài viết mới về du lịch Hoài Nhơn, kinh nghiệm khám phá địa phương, quán ăn ngon, đặc sản nổi tiếng và các mẹo hữu ích cho chuyến đi Bình Định.
